Sử thi buồn
Hoàng Phủ Ngọc Tường
Nếu có một biến động địa chất nào đó xảy ra thật nhẹ nhàng, khiến cho chỉ sau một đêm thức dậy, người ta bỗng thấy hai bờ sông Hương đã líp lại với nhau- nghĩa là thành phố Huế vẫn y nguyên, nhưng sông Hương không còn nữa… Vâng, giả sử là như vậy, thì liệu người trong nước, ngoài nước còn buồn nhắc tới Huế nữa không? Có lẽ ai đó vẫn còn tìm về, để rồi nhận ra cái tâm Huế trong mình đã khác. Nước vẫn chảy về đông, nhưng với Huế tuồng như không phải thế, sông Hương là một dòng ký thác tự chảy vào lòng mình, “con sông dùng dằng con sông không chảy- sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu“. E phải đạt tới sức tâm cảm của người nghe đàn cao sơn lưu thủy thuở xưa mới nói ra điều ấy, và chính là Thu Bồn, vốn mộtđời thơ giang hồ mê mải qua những dòng sông.
Còn tôi, rồi một ngày kia tôi sẽ già đi như tổ tiên của tôi, buổi sáng ngồi thật yên nghe con chim nó hót trong bụi hoa, lòng rỗng không vì đã quên hết chuyện đời. Trong buổi sáng thái hòa ấy của đời người, cả cõi nhân gian lại hiện bóng trong ký ức mơ hồ của tôi bằng tiếng cười nói của nhân loại trên những dòng sông mà tôi đã đi tới. Không biết rồi điều ấy có xảy ra với tôi hay không, nhưng bây giờ tôi luôn luôn nghĩ thế. Ý nghĩ ấy đến với tôi lần đầu tiên cách hơn mười lăm năm, khi cuộc viễn du đưa tôi đến đối diện với dòng sông luồng to sóng lớn chảy xa mù trong lịch sử nước Trung Hoa cổ, chính là dòng sông mà một nghìn hai trăm năm trước, nghĩ đến mái tóc sáng như tơ xanh chiều như sương, Lý Bạch đã thảng thốt cất tiếng hỏi: “Anh không thấy sao, nước Hoàng Hà đổ xuống tự lưng trời?…”Con người thật giống bản lai của nó là trái đất, với muôn vàn những dòng sông lặng lẽ chảy suốt đêm ngày trong thân thể nó là những dòng máu, vận hành trong lẽ tuần hoàn của vũ trụ và chuyên chở biết bao điều huyền nhiệm của cuộc sống. Thế nên ở vào cái tuổi con người thu mình về với bản lai của chính nó, trong những giấc mơ thanh đạm, tôi sẽ thấy lại những dòng sông. Với tôi, sông Hồng là nỗi nhớ về phù sa của đời người, sông Cửu Long là sức mạnh đi tới biển và sông Hương như nỗi hoài vọng về một cái Đẹp nào đó chưa đạt tới ở đời. Có lẽ vì thế mà bài hát Thiên Thai của Văn Cao đã được sinh thành từ trên dòng sông Huế này, trong nỗi mê cuồng của con phù du thoát xác bay về một cõi đẹp vĩnh hằng không có nơi trần thế. Anh Văn về Huế, tôi cùng anh trên một con thuyền trôi miên man trong buổi chiều xanh thẳm của núi ngàn, để cảm nhận lại một chút thiên thu trong tiếng hát Thái Thanh là với tôi là bài hát “để nghe suốt đời người”. Mùa xuân hoa dẻ rụng đầy những dòng suối ở cửa rừng, cánh trắng với những tua nhị tỏa thành chùm bềnh bồng, phảng phất một mùi hương hoang đường gợi nhớ Tiên, giống như hoa đào xưa kia Lưu Nguyễn một lần đã thấy…
***
Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần…
Có lẽ nghìn năm trước Văn Cao đã hóa thân ở nơi đây, cầm trên tay trái đào nhớ thương của tiên nữ để theo dòng nước về nhân gian không trở lại. Người tiên khách trần chia tay nhau, chén rượu tiễn đưa chìm xuống đá sông hóa thành một quả núi đẹp muôn đời, gọi là Hòn Chén. Hòn Chén hay còn gọi là núi Ngọc Trản, từ lâu đời trên núi có đền linh thờ tiên. Mạch núi trùng điệp từ Tây Bắc dồn về, cuồn cuộn thế rồng đi cọp ngồi, cảnh trí thanh quang, cây cối sầm uất, mới nhìn đã thấy khác thường, thời nhà Mạc, tác giả sách Ô Châu Cận Lục qua đây, cảm khái nói rằng núi này dáng như “tổ tông cao ngất”. Dưới chân Hòn Chén, dòng sông quành nửa vòng tròn để về xuôi, xoáy thành một đáy vực sâu thẳm; chuyện cũ cố đô chép rằng các vua nhà Nguyễn dùng nước sông Hương lấy từ vực này. Nước sông ở đây còn đầy vị nguồn, ngọt thanh như ánh trăng và bóng trăng thì làm rùng mình như một mảnh nhan sắc chìm trong thiên cổ. Xuân Diệu kể trong thơ rằng một đêm chàng qua đây, nghe trong tiếng nguyệt cầm những giọt lệ thương đời người nương tử đã chết dưới vực biển pha lê này trong màu trăng nguyệt bạch. Ở khúc quanh này những con đò hoàng hôn từ nguồn về bỗng đột ngột bị cắt làm đôi, nửa khoang chở đầy nắng, nửa kia chìm trong bóng tối . Một thời rất dài trước khi nằm úp mặt xuống cỏ với một vết đạn hồng sau gáy, Ngô Kha thường về ngồi một mình giữa đám trâm chồi trên sườn đồi Vọng Cảnh bên này, nhìn cái bóng nghiêng của mìnhđổ dài giữa những hốc đá khô… Trong nỗi trầm tư dằng dặc, chàng đăm đăm dõi theo những con rừng chở nặng cả ánh sáng và bóng tối, như chở một linh hồn không yên tìm chốn nghỉđâu đó dưới những vòm cây âm u tiếng chim bìm bịp bên kia sông:
“Trong tôi dừng một khoang chiều
Tôi về chở một cô liêu đầy, nằm…”
Từ khúc cong này, sông Hương bắt đầu từ giã thế giới huyền thoại của rừng già để chuyển hóa thành một dòng sông kinh kỳ, rất xa mà cũng rất gần với tiền thân A Pàng của nó. Chính cái lai lịch quá gần gũi của núi ngàn đã âm hưởng rất sâu vào chất thơ của dòng sông sau này, khi nó trôi qua thành phố. Nghĩ lại, tôi chân thành biết ơn các vua chúa Nguyễn, và cả Lê Qúy Đôn từ Thăng Long vào, như là những nhà môi sinh tân tiến của thời đại họ, đã biết cách gìn giữ cho đời sau vẻ đẹp của con sông Huế, bằng những biện pháp nghiêm ngặt nhằm bảo vệ rừng đầu nguồn sông Hương. Đúng thế thôi, nếu sông Hương cũng giống như những dòng sông chị em của nó ở miền Trung, mùa mưa biến thành nước biển mênh mông, mùa kiệt chỉ còn là lạch nước nhỏ quanh quất giữa những cồn bãi mọc đầy cỏ gai, đúng, nếu cảnh tượng là thế thì Huế đã không tồn tại nổi trong tâm thức của người yêu Huế. Như là một người biết sống giữ mình, sông Hương ngày thường vẫn là một dòng xanh và đầy, đứng ở bến nào nhìn sang bên kia vẫn thấy thành phố mấp mé bên bờ nước.
Sông Hương rất nhạy cảm với ánh nắng nó thay màu nhiều lần trong một ngày như hoa phù dung và nhiều khi màu nước không biết từ đâu mà có, không giống với màu trời. Đó là một nét động trong cái tĩnh của thành phố, khiến cho dòng sông gây ấn tượng mạnh với ai từng đánh bạn với nó; người ta giữ những kỷ niệm màu sắc khác nhau về nó, giống như về màu áo của người bạn gái yêu mến của mình. Sông vẫn thường xanh, nhưng chính màu xanh trở mình sau cơn lũ mới lạ lùng: nắng vàng lạnh, và dòng sông vừa xanh trở lại hôm qua, màu lục non trẻ trung đến chạnh lòng, như một tình cảm nào thiết tha khôn nguôi trong đời. Cuối hè, Huế thường có những buổi chiều tím, tím cầu, tím áo, cả ly rượu đang uống trên môi cũng chuyển thành màu tím; và sông Hương trở thành dòng sông tím thẫm hoang đường như trong tranh siêu thực. Trần Dần từ Hà Nội về chơi Huế, ngày nào cũng ra bờ sông ngồi nhìn chiều tím; lần ấy không nén được lòng, nhà thơ đứng dậy một mình vỗ tay hoan hô dòng sông. Từđó trong ngôn ngữ của Tư Mã Gãy- Trần Dần mọc thêm một từ mới, gọi Huế là “nhân loại tím”. Trong ngôn ngữ thường ngày, ý niệm “màu tím Huế” có nguồn gốc thiên nhiên rất rõ:đủ độ nồng nhưng màu vẫn ửng sáng, nó không gợi nỗi buồn theo kiểu hoa păng- xê mà là niềm vui nhẹ của những bông cỏ mùa xuân. Nó mang dấu hiệu của một nội tâm trong sáng, giàu có nhưng gìn giữ để không bộc lộ nhiều ra bên ngoài; vì thế với người phụ nữ Huế, màu tím ấy vừa là màu áo, vừa là đức hạnh.
Tôi biết, Trần Dần không muốn dừng lại nơi buổi chiều Huế nào đó mà thi sĩ tiền chiến Đoàn Phú Tứ đã đi qua. Thời nhiều mộng mơ, Đoàn Quân đã lọc ra từ chất huyền ảo kia của dòng sông Huế ý niệm nổi tiếng của ông về thời gian :
“Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát”.
Tôi và Phùng Quán đã đến thăm Đoàn Phú Tứ, loanh quanh mất gần tiếng đồng hồ mới tìm ra chỗ ở của ông, một căn nhà quá đơn sơ ngoài bãi sông Hồng, chen chúc giữa xóm lao động của nhà máy điện Yên Phụ. Ông kể với chúng tôi chuyện ông vừa được kết nạp lại vào Hội nhà văn, về giải thưởng các công trình dịch thuật mà nhà xuất bản Văn học vừa trao tặng cho ông, về món tiền trợ cấp khiêm tốn mà Quốc hội vừa gởi đến ông, với tư cách là đại biểu văn nghệ sĩ tại Quốc hội khóa I. Tất cả mọi chuyện như vậy, ông nói với chúng tôi bằng một nỗi vui thành thực và thơ ngây, y như tâm trạng hưng phấn trước những thành quả đầu đời của nhà văn trẻ. Thời tài hoa của ông đã lừng lẫy thì Phùng Quán vừa bước vào một “Tuổi thơ dữ dội” cùng với thành phố trên sông Hương, và bây giờ Phùng Quán cũng vừa ra khỏi một cuộc trần ai với bộ râu pha sương trông đẹp lão. Chúng tôi đi khắp xóm hỏi tên Đoàn Phú Tứ không ai biết; mãi sau Phùng Quán hỏi tên riêng của bà, người ta liền chỉ đến một quán nhỏ bán bánh rán ở đầu ngõ, và Đoàn quán đang ngồi giữa đám trẻ xúm xít ăn quà sáng. Quả thực tôi đang đối diện với một đời nghệ sĩ tài hoa, đến bây giờ cốt cách cũng chưa phai mờ. Tưởng lại gương mặt sầu buồn của ông trải mấy mươi năm giữa xóm đê ven sông này, tôi kinh hãi nhận ra tận dưới đáy ký ức vui buồn của ông, mải miết trôi đi một dòng sông tím ngát…
Sương mù là một nét phong vận riêng của sông Hương, xuất hiện khoảng cuối năm đến đầu hạ, vào tinh mơ, cuối chiều và những đêm trăng lạnh; cũng nhiều khi ghé lại bất ngờ như một gã lãng du. Nhiều tháng dài thành phố xưa hư ảo trong sương, dòng sông mịt mù trôi trong cơn mê dài, chỉ còn những ánh lửa thuyền chài lay động ý thức giữa cõi thực và cõi mộng. Người ta ngồi nói chuyện với nhau trong khoang thuyền, chỉ lờ mờ nhìn thấy mặt nhau qua màn sương, trong khi bên ngoài những nét cong mềm của cầu Trường Tiền, những mái đầu đội nón của hoàng thành và những cây bàng, cây bồ đề trụi hết lá hai bên sông đều nhạt nhòađi thành những nét xuất thần trên những bức tranh lụa cổ. Mùa này, những thiếu nữ Huế thường đi ra ngoài với áo trắng dài, nhìn cứ như những dáng người từ sương mù sinh ra. Dù đi xa hoặc phải thay đổi lối sống, họ vẫn giữ mãi màu áo ấy như kỷ niệm của tình yêu trinh bạch, và những tháng năm âm ỷ mộng đầy trời. Những tháng sương mù đã đưa Huế quay lại với linh hồn một cố đô sâu thẳm trong thời gian; và dù qua bao nhiêu thành phố trên thế giới, người ta vẫn giữ về Huế một ấn tượng riêng của tâm hồn mình, như trong một câu phương ngôn Nhật Bản: “đừng quấy động những gì đã yên tĩnh”.
Phan Bội Châu đã giành hết quãng đời “ông già Bến Ngự” của mình để viết sách, và cả một khối lượng đồ sộ văn chương triết học của ông đã ra đời trong một lòng thuyền bềnh bồng trên sông Hương. Suốt một đời chọc trời khuấy nước, trở về làm Tô Đông Pha đánh bạn với dòng sông Hương mù, Phan Bội Châu tìm thấy ở sông Hương một tâm hồn bè bạn vừa sáng suốt, vừa tinh nghịch để chia sẻ với ông những kinh nghiệm lịch sử làm cho triết nhân nheo mắt cười:
“Hương ơi, e phải mày không
sông nọ hóa ra mình có”…
Hơn bốn mươi năm sau ngày cụ Phan qua đời, tôi được gặp bà Trần thị Nữ, người chèo đò cho cụ Phan suốt mười lăm năm ở Huế. Được biết trong bấy nhiêu năm, bà như đã quên hết chuỵên đời, chỉ giữ lại một tấm lòng cô trung với nhà yêu nước vĩ đại. Bà kể lại với mọi người đến thăm vô vàn những kỷ nịêm về cụ Phan, và nhiều đêm như người mộng du bà quanh quẩn giữa cây lá trong vườn, ngâm vang Hải Ngoại Huyết Thư trong tiếng đại bác dội vào thành phố. Một đêm trăng thời đệ nhị thế chiến, cụ Phan neo thuyền giữa sông Hương, chỗ gần cầu Gia Hội để hóng mát. Từ một con thuyền đâu đó chợt cất lên một câu hò lạ:
“Biển Thái Bình Dương đang cơn sóng nổi
Chiếc thuyền em trôi nổi tựa cánh bèo
Sao không ra tay giúp chống đỡ chèo
Anh hùng sao lại nằm queo trong thuyền
Hò ơ, hò ơ…”
Cụ Phan giật mình, bảo bà Nữ đi tìm người vừa hò câu mái nhì đến gặp: một cô gái mặc áo vá vai dịu dàng đứng vòng tay cúi đầu trước ông già Bến Ngự, Cụ móc hầu bao thưởng cô lái mấy giác bạc, rồi chắp tay vái tạ; suốt đêm ấy cụ Phan trằn trọc không ngủ.
Bà Nữ qua đời, mộ đưa vào khu nghĩa trang cụ Phan lập ra để dành cho những người cùng chí hướng của cụ từ thời ấy, thời những người yêu nước “chết không có đất mai táng” theo di chúc của cụ. Trải bao lớp sóng phế hưng cho tới khi bà Nữ nhắm mắt, tôi nghĩ thầm khi theo sau cỗ quan tài đơn chiếc không có hoa tươi đưa bà vào nghĩa trang, mái chèo thời gian của bà vẫn bền bĩ quẫy nước trên một con thuyền không bến.
Có một chiều sương sa, sông Hương mịt mùng như cả con sông Ngân Hà đang xuống trần và trôi qua trước mắt tôi. Chợt hiện ra một vệt lửa lung linh tiến dần về phía tôi. Tưởng đâu xa lắm, hóa ra nó đang lướt qua chỗ tôi, cách bờ nước độ vài mét, chỉ có bếp lửa, không thấy dáng người. Tôi giật mình kêu lên: “Con thuyền Phan Bội Châu!”… Trong khoang thuyền đó hơn nửa thế kỷ trước, một ông già đã miệt mài tổng kết lịch sử, soi lại đạo nho, giải lại Kinh Dịch, và tiên đoán Chủ nghĩa xã hội… Ôi tư tưởng và tâm huyết của cả nửa thế kỷ kia, bây giờ chỉ còn lại một vết “lửa chài lập lòe nơi yên ba thâm xứ” lịch sử nhiều khi còn làm tôi ngơ ngác hơn giấc mộng.
Với sông Hương, người ta không thể vô tình quên người bạn đời của nó trong truyền thống mỹ học phương Đông là núi Ngự Bình. Nếu Ngọ Môn là khuôn mặt của kinh thành, thì sông Hương ở quãng này là giải quai nón bằng lụa mềm ôm lấy khuôn mặt ấy, và Ngự Bình là tụ điểm của cái nhìn từ lâu đài trông ngóng ra chân trời. Núi Ngự có hình thang cân, kéo mộtđường thẳng thanh thoát nổi bật trên nền trời giống như chiếc án thư nghĩ ngợi ánh sáng nhật nguyệt. Ngày xưa, thi sĩ Tuy Lý thường ruổi ngựa lên núi này, triết học thiên nhiên của ông sâu thẳm khôn lường:
“Sáng mai quất ngựa lên đầu núi”